Sử cũ “quên” không chép cuộc khởi nghĩa này?

Chia sẻ

Trên mạn tây ngoại thành thủ đô Hà Nội, ở vùng tổng Gối (Tân Hội, Đan Phượng) và Kẻ Noi (Cổ Nhuế, Từ Liêm) xưa có họ Văn (của Đại tướng Văn Tiến Dũng thời hiện đại).

 

Ký ức hồi cố của nhiều người địa phương, đặc biệt là các hậu duệ dòng họ Văn này, hợp với những ghi chép trong các gia phả, tộc phả, thần phả…, đặc biệt là trong văn bản chữ Hán Nôm “Cối Lâm tiểu dẫn”, được cho là của một “đại phu triều Nguyễn”, người làng Thượng Hội (của tổng Gối xưa, xã Tân Hội ngày nay) tên là Nguyễn Duy Lương, viết năm 1902, đều luôn có những nét rất đậm về một nhân vật mà vào hồi cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 (“thời mạt Trần và Hậu Trần”) đã sống và hoạt động ở miền này: Văn Dĩ Thành.

 Lang van son

Lăng Văn Sơn (Tân Hội, Đan Phượng, Hà Nội), chứng tích huyền kỳ về trận vong oanh liệt của thủ lĩnh khởi nghĩa Hắc Y Văn Dĩ Thành. Ảnh tư liệu.

Ông Văn Dĩ Thành, họ Văn nhưng gốc họ Hoa ở Bảo Hà (Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Ngôi làng nghề mộc và làm tượng gỗ nổi tiếng này, vốn là quê hương của “Đại đô đốc Hoa Duy Thành”-người đã dự trận Bạch Đằng năm 1288. Hậu duệ đời thứ 6 của Hoa Duy Thành là Hoa Hải Thanh, gặp lúc họ Hoa ở Bảo Hà “mắc nạn” (không biết là “nạn” gì, chỉ thấy chép như thế trong tộc phả), đã phải cải họ Hoa thành họ Văn, lấy tên là Văn Đại Thanh, tìm đến vùng tổng Gối sinh sống, rồi lấy bà Phạm Thị Duyên (là hậu duệ của quan Điện tiền Phạm Ngũ Lão, được nhà Trần ban “thực ấp” ở miền này), sinh ra Văn Dĩ Thành.

Năm Văn Dĩ Thành 17 tuổi, gặp lúc Hồ Quý Ly kiến thiết Tây Đô, người cha Văn Đại Thanh (Hoa Hải Thanh) vì giỏi nghề mộc từ quê gốc Bảo Hà-đã bị bắt phải đi phu vào Thanh Hóa xây thành. Việc thổ mộc sắp xong thì Văn Đại Thanh (Hoa Hải Thanh) bỏ trốn vào Nghệ An lánh mình. Không dám trở về quê nhà tổng Gối nữa, ông này có lần đã phái người con trai thứ ba (sinh hạ tại Nghệ An) tìm đường về gặp gia đình vợ con cũ ở tổng Gối, nhưng việc không xong, thế là phải dạt sang bên Kẻ Noi (Cổ Nhuế) lập nghiệp, thành ra tổ họ Hoa-Văn (của Đại tướng Văn Tiến Dũng) tại đấy.

Văn Dĩ Thành đã từ tuổi thiếu niên sang tuổi tráng niên trong cuộc biến động vần vụ của dòng họ và quê hương đất nước-đặc biệt, trong cuộc xâm lược và đô hộ của giặc Minh từ năm 1407 là như thế. Nhờ biết theo lời dặn của cha, được ghi vào gia phả-khi bị bắt đi xây thành Tây Đô: “Con phải nuôi chí từ đây”, hiểu cách gây dựng tài năng chữ nghĩa thánh hiền cho mình, lại giỏi cả nghề thuốc thang để cứu nhân độ thế (nhất là đã chữa khỏi được bệnh dịch cho cả nhà người có tên là Lê Ngộ ở làng Phan Long cùng tổng), nên ngay khi giặc Minh, sau buổi đánh bại nhà Hồ, bắt đầu đặt ách cai trị hà khắc lên giang sơn nước Việt, Văn Dĩ Thành đã dùng tài năng và uy tín của mình, tập hợp lực lượng, huy động dân chúng, cắt cử Lê Ngộ làm “phó tướng” dựng cờ dấy nghĩa.

Nghĩa quân vùng tổng Gối của thủ lĩnh Văn Dĩ Thành thường dùng sắc phục toàn một màu đen, nên được xưng tụng là “Quân Hắc Y”. Cuộc khởi nghĩa cũng được gọi là “Khởi nghĩa Hắc Y”. Và Văn Dĩ Thành cũng được tôn vinh là “Tướng Hắc Y Dạ Xoa”.

Đóng đại bản doanh ở gò Đống Đám, giữa cánh đồng Dinh của làng Thượng Hội-một trong bốn làng (Vĩnh Kỳ, Thúy Hội, Thượng Hội, Phan Long) của tổng Gối (nay là khu làng Văn Sơn của xã Tân Hội, huyện Đan Phượng, Hà Nội). Quân Hắc Y của thủ lĩnh Văn Dĩ Thành đã xuất quỷ nhập thần, đánh cho giặc Minh những đòn hiểm độc, mở rộng hoạt động đến vùng cửa Tây (Đoài Môn) và hồ Tây (Tây Hồ), thành Đông Quan-thủ phủ của giặc, và còn lật cánh sang vùng bên kia sông Cái (sông Hồng), xây dựng thêm căn cứ đánh giặc ở Hạ Lôi, núi Dõm, núi Đôi, Thanh Tước… (thuộc huyện Mê Linh bây giờ).

Bị nhiều tổn thất, quân Minh lo sợ, trước hết cử người (tên là Minh Tư) đi mua chuộc, dụ dỗ “Tướng Hắc Y Dạ Xoa”. Việc không thành, một đêm tháng ba ngày 13, nhân “phó tướng” Lê Ngộ đưa phần lớn quân Hắc Y đi hoạt động xa, giặc Minh đã cất lẻn đem đại quân đánh vào đại bản doanh Đống Đám (Thượng Hội). Thủ lĩnh Văn Dĩ Thành đã cùng nhóm nghĩa binh thân tín tả xung hữu đột, nhưng quân ít, không cự nổi giặc.

Lúc “phó tướng” Lê Ngộ hay tin, vội đưa lực lượng về ứng cứu, thì giặc đã lui binh. Chỉ còn xác thủ lĩnh Văn Dĩ Thành đã được mối đùn thành gò mộ lớn, và thây chết của các nghĩa binh cùng nghĩa dân nằm ngổn ngang trên chiến trường Đống Đám-Đồng Dinh.

Lê Ngộ, sau khi làm lễ an táng cho chủ tướng (ở chỗ bây giờ là “Lăng Văn Sơn”) và chôn cất các nghĩa quân, nghĩa dân tử trận (ở “Khu Mả Chùa” ngày nay), đã đem hết lực lượng vào Lam Sơn theo Bình Định Vương Lê Lợi. Đến  khi Lam Sơn khởi nghĩa thành công, ông trở thành công thần, lại về làng, xin vua phong thần cho Văn Dĩ Thành, xây lăng cho “Tướng Hắc Y Dạ Xoa”, xây miếu thờ cho nghĩa quân Hắc Y ở làng quê hương Phan Long, rồi cũng qua đời ở đấy luôn.

Đó là những nét chính của “Cuộc khởi nghĩa Hắc Y” hồi đầu thế kỷ 15, mà chính sử (sử sách chính thống) cổ truyền của các triều đại cũ đều không có dòng ghi chép nào. Nhưng trong ký ức hồi cố, và đặc biệt là trong thế giới tâm linh của nhân dân địa phương, thì vẫn luôn sống động, thậm chí luôn được bồi bổ nhiều điều quan trọng và linh diệu về cuộc khởi nghĩa như “Lục điều kim ngọc” (6 điều quý báu dạy quân) và “Tứ vọng giang sơn” (4 nguyện vọng thiêng liêng dành cho đất nước), mang rất nhiều tính hiện đại, mới thấy ghi ở văn bản “Cối Sơn tiểu dẫn” 1902, nhưng vẫn đang được cho là của chính thủ lĩnh Văn Dĩ Thành.

Và cùng với “Lăng Văn Sơn”, “Khu Mả Chùa”, “Đống Đám”, “Bãi Dinh”…, những địa danh, cùng những chứng tích huyền kỳ như: Xóm Ngõ Giặc (Minh), xóm Ngõ Lương (chứa lương thực của nghĩa quân), gò Ngõ Táng (chôn cất nghĩa quân trận vong)… ở trên thực địa xã Tân Hội. Các kiến trúc tín ngưỡng đền Phố Hạ ở Hạ Lôi, đặc biệt là đền Voi Phục ở Thượng Hội, với Long ngai và tượng thờ, sắc phong và thần tích… luôn thơm ngát khói hương thành kính và long trọng lễ hội (mở vào ngày “thánh hóa” 13 tháng ba hằng năm) thờ phụng thủ lĩnh Văn Dĩ Thành, thì vẫn còn đó.

Cộng thêm vào đấy là những cuộc “hành trình con thoi” của những đoàn người họ Hoa từ Bảo Hà (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) tìm về Tân Hội (Đan Phượng, Hà Nội) kết nghĩa. Những đoàn người từ Cổ Nhuế (Từ Liêm, Hà Nội)-trong đó có Đại tướng Văn Tiến Dũng đi sang Bảo Hà (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) nhận họ. Những nhà nghiên cứu người Cổ Nhuế và Tân Hội, vượt sông tới Hạ Lôi (Mê Linh-trước đây thuộc Vĩnh Phúc, nay là Hà Nội) tìm tòi chứng tích, tư liệu…

Tất cả, đang tạo ra một dòng “dân sử”, được vận hành nồng hậu vào lúc này, để chờ đến một ngày nhập dòng cùng “chính sử”, làm nên những trang sử đấu tranh vẻ vang, oanh liệt của dân tộc.

GS LÊ VĂN LAN

(Một) 5 bình luận về “Sử cũ “quên” không chép cuộc khởi nghĩa này?”

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *